Bài chòi - Nghệ thuật dân gian truyền thống

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của miền Trung, phổ biến từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Cũng như hát bộ, bài chòi ra đời từ dân gian, nhưng hát bộ đi vào cung đình để trở thành nghệ thuật bác học, còn bài chòi phát triển thành nghệ thuật chuyên nghiệp, nhưng vẫn bám trụ trong lòng nhân dân lao động ở nông thôn.

Ham mê cái thứ bài chòi
Bỏ con hắn khóc cho lòi rún ra
……
Bài chòi cứ đánh mà chơi
Dẫu mà để ruộng có tôi trông chừng
Tiết xuân thôn xóm tưng bừng
Kẻ chào thưa thím, người chào thưa anh
Mấy chú chạy hiệu thiệt lanh
Miệng hô, rút thẻ, loanh quanh chín chòi…


Bài chòi là một loại hình dân ca và trò chơi dân gian đặc trưng ở miền Trung Việt Nam, về sau đã được phát triển thành một loại hình sân khấu ca kịch vào những năm 30 của thế kỷ 20. Cứ vào dịp Tết Nguyên đán, khắp miền quê, hội bài chòi được tổ chức trong khoảng thời gian dựng nêu, tức từ 30 tháng chạp đến mồn 7 Tết. Đôi khi cuộc chơi kéo dài đến rằm tháng giêng âm lịch, tức từ Tết Nguyên đán đến Tết Thượng nguyên.


Dân ca Bài chòi được hình thành từ lối chơi bài trên các chòi trong hội xuân của người Việt ở miền Trung. Từ chỗ chỉ là nơi hô tên các con bài, qua năm tháng với sự sáng tạo của các nghệ nhân dần hình thành một thể loại dân ca độc lập có thể diễn xướng ở mọi nơi, mọi lúc. Yếu tố diễn xướng cũng ngày được tăng cường theo các sáng kiến của các nghệ sĩ dân gian trong các bài chòi, chải chiếu đi hát khắp chợ cùng quê.

Bài chòi  - Từ một trò chơi dân gian đặc sắc

Vào dịp Tết hay lễ hội, người ta tổ chức đánh bài chòi ở các thôn làng. Một thôn nhiều khi có từ 2 đến 3 điểm chơi, trên khoảng sân rộng trước đình làng hay ở nơi họp chợ. 9 cái chòi tre, mái lợp tranh được dựng lên, chòi cao cách mặt đất 2m, được lót khịa tre để khoảng từ 4-5 người ngồi chơi. Bộ bài chơi là bộ tam cúc, gồm 27 hoặc 30 cặp, chia làm 3 pho: Văn, Vạn, Sách. Mỗi pho có 9 hoặc 10 cặp bài có tên gọi riêng.

Văn chương bài chòi là văn chương bình dân nhưng vẫn đảm bảo chất thơ. Khi con bài rút ra, anh hiệu bắt đầu hô những câu thai liên hồi kỳ trận, những lời khôi hài, dí dỏm, người lớn cười đám trẻ cũng cười và mê đến ngẩn tò te. Những người ngồi chơi niềm vui đong đầy với tâm trạng thấp thỏm, hồi hộp.

 Cái tên “chòi” xuất phát từ hình thức chơi: Những người chơi bài ngồi trong 8 hay 10 cái chòi chia thành hai hàng đối nhau, ở một đầu và giữa hai hàng chòi là chòi hiệu. Trước mỗi chòi có treo mõ, một chiếc mành trúc và một đôi câu đối. Người ở chòi hiệu rút các quân bài ở ống bài ra, cứ mỗi quân bài lại hát một câu “thai” để mọi người ở các chòi đoán xem đó là con bài gì, cũng có khi người hiệu giảng luôn kiểu như rao bài ở tổ tôm điếm. Sau khi người hiệu có con bài hò thơ như vậy, chòi nào có con bài ứng vào với câu hò sẽ gõ ba tiếng mõ và được trao một lá cờ nhỏ, khi trúng ba lần câu hò ở chòi hiệu sẽ được trao lá cờ lớn hơn. Có khi người chòi nào đó hò câu thai và người chòi nào ứng được thì gõ mõ và đưa bài ra. Khi hò câu thai có đàn phách hòa theo.

Người thắng bài gọi là “ù” hay “tới”, mỗi ván bài có người tới là trống kẻng khua vang rồi đốt pháo thổi kèn, người hiệu mang khay phần thưởng đến chòi người tới và cắm một lá cờ đuôi nheo bằng giấy hồng trước chòi.

Bài chòi có 36 con bài gọi là bài trường vẽ theo lối tượng hình như con Tứ cẳng vẽ bốn chân, Tứ móc vẽ 4 móc, Tứ tượng vẽ 4 voi...vv.
Bên trong các chòi tre, người chơi vừa lắng nghe con quân ra đời vừa dùng thẻ bài gõ vào ống tre treo ngang theo nhịp bài hát. Tất cả đều say mê hào hứng tạo cho cuộc chơi một sắc thái mang tính lễ hội lại đậm chất dân gian bởi cái mộc mạc đáng yêu của nó.

Trong bài chòi, nghệ nhân sử dụng được nhiều đặc điểm của các loại hình dân gian khác mà một trong những đặc điểm của chúng là tính hài hước. Người dân có hàng trăm cách để cười. Từ việc cười cợt các tệ đoan xã hội, đến những nụ cười hồn nhiên trong quan hệ nam nữ. Thậm chí tự diễu cợt mình cũng được mang vào lời hô của Bài Chòi.

Từ trong trò chơi bài chòi, rồi thành bài chòi nhóm hát đi hô rong, rồi dần dần lên giàn tức chưa phải là sân khấu. Sau khi hát ở sân đình, hát ở lều chợ thì người ta nghĩ phải đưa bài chòi lên giàn.”

Đến loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống

Đánh bài chòi là một trò chơi dân gian giải trí mang tính chất văn chương bình dân. Người ta đánh bài chòi để thử thời vận hên xui dịp đầu năm, chứ không tính ăn thua đỏ đen. Dần dần, Bài chòi đã phát triển đi lên thành một nghệ thuật quần chúng. Từ một nghệ nhân ban đầu là “Anh hiệu” đóng đủ mọi vai khi bài chòi có tính cách tự sự, về sau xuất hiện nhiều nghệ nhân và hình thành một sân khấu hẳn hoi như sân khấu tuồng truyền thống. Những làn điệu dân ca đã tiến xa với những tuồng tích hoàn chỉnh như Lâm Sanh – Xuân Nương, Phạm Công – Cúc Hoa, Thạch Sanh – Lý Thông...

Hô Bài Chòi là một bộ môn văn hóa dân gian lâu đời, phát triển và dính liền cùng với những thăng trầm lớn lao của lịch sử. Người dân miền trung bắt đầu từ Quảng Bình, đi dần vào miền sông Hương núi Ngự kéo dài mãi tận Phan Thiết. Đi đến đâu loại hình văn hóa này đều được công chúng hồn nhiên tham gia và được nâng cao qua tài năng ứng đối của nhiều đời nghệ nhân qua vai trò của anh Hiệu, tức người hô bài hát.

Theo nhiều nhà nghiên cứu thì chính từ trò chơi bài chòi mà ca kịch bài chòi ra đời. Đầu tiên các nghệ nhân ngồi trên chiếu trải dưới đất còn người nghe đứng xung quanh, nhưng về sau các nghệ nhân ngồi trên một giàn gỗ dựng cao (nên người trong giới thường nói rằng bài chòi đã từ đất lên giàn).

Bài bản và làn điệu của ca kịch bài chòi gồm các điệu hát ru, điệu lý thương nhau, lý tang tình, khoan hỡi hò khoan (Quảng Nam-Đà Nẵng), nói lía, chèo thuyền (Quảng Trị), hò mái nhì (Thừa Thiên). Lời hát là những bài thơ bốn chữ theo điệu vè và nhiều nhứt là thơ lục bát, không có nét nhạc cố định mà tùy theo thanh giọng của câu thơ. Có ba điệu chánh là xuân nữ, nam xuân (hay cổ bản, gần hơi bắc của nhạc tài tử) và xàng xê (gần với hơi nhạc, hơi hạ trong nhạc tài tử).

Về tiết tấu, chỉ có nhịp đôi đều đặn hay nhịp ba bỏ một nhịp, nhưng cũng có thể biến tấu. Nhạc cụ phụ họa lúc đầu chỉ có đờn nhị và sanh sứa (là hai mảnh tre chuốt nhọn hai đầu cầm trong một tay, âm thanh chạm vào nhau nghe như tiếng ve kêu), sau thêm đờn nguyệt, ống sáo và sinh tiền. Động tác trên sân khấu áp dụng các điệu múa sắc bùa, lục cúng, bát dạo.


Ngôn ngữ bình dân trong hô bài chòi có thể bày tỏ tình cảm trai gái lứa đôi, ve vãn, phê phán những thói hư tật xấu, nói chuyện thời tiết mùa màng, chuyện chính sự, phụ sự... Bài chòi còn cả gan “sờ tận gáy” các quan phụ mẫu thời xưa... nghĩa là nó không tha bất kỳ việc gì trên đời này. Trong khi đó, tại các sân hò (hò khoan, hò giã gạo, hò kéo vải...) chỉ thấy một kiểu thức huê tình, phong tình mà thôi

Thời xưa, bài chòi đã ăn sâu tận gốc rễ, tạo thành sinh hoạt văn hóa thường xuyên của quần chúng nông thôn, cũng ví như ngày nay, ca tài tử, cải lương đã thấm sâu vào tâm thức của người dân Nam bộ vậy.

Điểm độc đáo của ca kịch bài chòi là một diễn viên có thể thủ một lúc nhiều vai, cùng với vài nhạc cụ thô sơ phụ họa mà đủ sức lôi cuốn khán thính giả thích thú theo dõi. (Cách biểu diễn này ở châu Á chỉ có thể loại Pansori của Triều Tiên với một diễn viên thủ nhiều vai cả nam lẫn nữ, già lẫn trẻ, được sự phụ họa của một trống puk).

Bài chòi là nghệ thuật dân gian, nên từ kịch bản đến đạo diễn, diễn xuất, âm nhạc và trang trí đều phải xuất phát từ quan điểm dân gian mà sáng tạo, tách khỏi tư duy dân gian, dân tộc sẽ dẫn tới hình thái khác - vừng thành ngô.

Bài chòi là một trong những loại hình văn hóa nghệ thuật, mà chính xác là loại hình văn hóa dân gian, mang đậm chất sân khấu nhỏ đầy tính ngẫu hứng, được đại bộ phận khán thính giả chấp nhận, dung nạp. Bài chòi đã có những tác động khá mạnh mẽ đến sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người bình dân vùng nông thôn trước khi bị cải lương, kịch nghệ, ca nhạc, phim ảnh tấn công.

Nguồn gốc của Bài chòi và dân ca Bài chòi

Theo các nhà nghiên cứu bài chòi như Đặng Văn Lung, Phan Ngạn, Tạ chí Đại Trường... thì vạch xuất phát ban đầu của hô bài chòi là kể chuyện theo nguyên mẫu văn vần có âm giai, nhịp điệu. Những người ngồi nghe phụ họa theo lời hô từ các câu chuyện kể bằng các nhịp tay, mà biến thức của nó sau này là bộ sanh (gõ). Ngoài ra tên gọi thông thường của hô bài chòi, theo như Tạ Chí Đại Trường là: “Kỳ thực tên xưa cũ của nó là hô thai. Chúng ta đã từng nghe nói đến đố thai. Đó là một câu lục bát ngầm chỉ một vật gì mà người ta phải tìm ra. Thường ví dụ là những câu ca dao có sẵn mà người đó gắn cho nó một chủ ý, chỉ định bằng cách nói rõ vật đố đó thuộc loại gì.

Ngày xưa, ở vùng nông thôn nam Trung bộ, hầu hết đều hình thành những sân hò như các sân hò ở Phù Cát, An Nhơn (Bình Định), vùng đồng bằng, hạ lưu sông Bàn Thạch, Đà Rằng, sông Cái (Phú Yên). Và cùng tồn tại với các sân hò này là các sân hô bài chòi. Khán giả mê hò thì đến với sân hò, mê bài chòi thì đến sân bài chòi. Đôi khi trên sân hò, người ta hò chán chê lại đổi qua hô bài chòi và ngược lại. Nếu như sân hò gần gũi với thơ ca, phong dao huê tình, thì các sân hô bài chòi lại gần gũi với đời sống thường ngày hơn. Nó có khả năng phản ánh những thông tin kịp thời và nhanh nhất mọi diễn biến xảy ra trong xã hội, nên chức năng thông tin trong hô bài chòi cao hơn nhiều. Ví dụ chuyện cô bốn Lành xinh đẹp, góa chồng năm hai mươi ba tuổi, ở vậy nuôi cậu con trai duy nhất tới năm ba mươi mà không chịu tái giá. Nhiều nơi giàu có đánh tiếng, nhiều ông xã, ông huyện... đang đêm lén lút vợ con “vi hành” tới tỏ tình với cô bốn Lành nhưng thảy đều bị khước từ. Có một vị “phụ mẫu chi dân” tuổi ngoài ngũ tuần, nổi tiếng thanh liêm chính trực, nửa đêm hứng tình mò đến nhà cô bốn. Chuyện bị bại lộ. Mấy hôm sau tại sân hô bài chòi, tức thì có một bài bóng gió:

Tại cuộc hội thảo khoa học: “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền Trung” do Bộ Văn hoa (nay là Bộ VH,TT&DL) tổ chức tại Nha Trang tháng 10.1991, có ý kiến cho rằng: cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê... đang sử dụng trong hát bộ và cải lương đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương. Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của chính nó, mà chỉ thêm vào để một bài hô hay hơn.

Hô bài chòi cũng đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn mỗi người bình dân nông thôn suốt một thời kỳ khá dài, trên cùng một vùng văn hóa rộng lớn. Những câu hô bài chòi không chỉ thu hẹp ở một địa phương mà còn lan rộng cả một vùng nam Trung bộ. Khả năng tỏa rộng của những câu hô như vậy là yếu tính của dân ca nói chung và của bài chòi nói riêng.


Tầm vóc của bài chòi, hô bài chòi tuy không lớn, ảnh hưởng chưa bao trùm lên cả nước, nhưng vai trò của nó cho riêng một vùng đất thì không ai phủ nhận: “Hô bài chòi cũng như lý, là loại dân ca đã được đưa lên sân khấu trong nhiều kịch bản, được nhân dân miền nam Trung bộ rất ưa thích” (Vũ Ngọc Phan – SĐD).

Cũng có những tài liệu căn cứ vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc ở một giai đoạn nhất định để gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của bài chòi theo chiều đồng đại và lịch đại. Trong khi đó, một vài tài liệu khác thì lại xác định về dấu mốc thời gian xuất hiện của bài chòi là điều tất yếu. Vì mỗi vùng, mỗi miền đều “ hình thành những vùng văn hóa nghệ thuật với màu sắc khác nhau, thì nam Trung bộ là một trong những vùng như vậy” (Thụy Loan, TS Âm nhạc, Một Vài Suy Nghĩ Chung Quanh Vấn Đề Phát Triển Ca Kịch Bài Chòi, Tạp chí Nha Trang số 9, tháng 10 năm 1991).

Hô bài chòi ngày nay đã biến thể nhiều, từ những trò chơi thô sơ ban đầu nay đã tiến lên thành một loại hình trình diễn mà anh Hiệu dần dần mờ nhạt thay thế bởi những nghệ sĩ hát bài chòi trong một dàn nhạc. Chính vì tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn nên trò chơi dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và xem. Ý nghĩa của nó còn vượt ra khỏi một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian: là nơi trổ tài vừa biểu diễn, vừa hát hò, đối đáp; là nơi gặp gỡ của bà con làng trên xóm dưới... và đặc biệt đây còn là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, tìm hiểu, trao duyên.


Bởi vậy, nghệ thuật dân gian cần phải được bồi đắp và gìn giữ thế nhưng nếu biến những tài sản phi vật thể này trở thành những phẩm vật thương mại thì sự cố gắng dù cho có thành công, cũng không thể thay thế cho sản phẩm gốc mà các loại hình văn hóa độc đáo đã sống cùng với dân tộc.

Theo cinet.vn

Viết bình luận lên Facebook:

Các tin khác
 
Tags: game hay nhất tại VQG,  W88 http://w88no.com/ đại lý ủy quyền bán may inmay in epson188BET cacuoc-online.com,  du hoc nhat banphim hotgiá vànglinh kiện máy tính bảngsửa chữa máy tính bảngmáy tính bảng giá rẻlinh kiện máy tính bảng,  mua sim so dep 10 so,  phan phoi sim viettel so dep toàn quốc,  công cụ xem phong thuy sim chuẩn xác,  mua ban sim so dep,  chọn sim phong thuy hop tuoi