KHAN (các dân tộc Tây Nguyên)

Khan được kể trong các dịp cầu cúng, lễ hội, dần dần trở thành một sinh hoạt văn hóa truyền thông bình thường của buôn làng. Những nghệ nhân thuộc lòng các bài dài, được mời hoặc tự nguyện kể khan cho mọi người nghe.

Một loại văn kể chuyện của các dân tộc vùng Tây Ngyên, nhưng tên gọi khan là chủ yếu của dân tộc Ê Đê. Không hoàn toàn đồng nhất, song có nhiều phần tương tự như hơmon của Ba Na, hơri của GiaRai, a khan của Chăm và Raglai.
 
Khan được kể trong các dịp cầu cúng, lễ hội, dần dần trở thành một sinh hoạt văn hóa truyền thông bình thường của buôn làng. Những nghệ nhân thuộc lòng các bài dài, được mời hoặc tự nguyện kể khan cho mọi người nghe. Lời khan khi là lời kể chuyện, khi là lời thơ, vì gồm những đoạn có vần, có đối đáp. Người kể có lúc nói thường, có lúc ngâm, có lúc lại trình bày như một màn diễn xướng.
 
Có khá nhiều khan đã được biết đến, nổi tiếng nhất là khan Đăm San (được Sabitier phát hiện năm 1924). Tiếp đó từ sau Cách mạng tháng Tám, các khan Đăm Di, Xinh Nhã… được giới thiệu. Từ khan trở nên quen thuộc gần gũi hơn, nên người ta thường gọi chung các bản sử thi này là khan cả. Thật ra, tác phẩm như Đăn Noi, người Ba Na gọi nó là hơmon, chứ không gọi là khan.
 
Do độ dài và nội dung thường kể những chuyện anh hùng xuất chúng, các bài khan đã được xem là những anh hùng ca, hay những sử thi. Giới nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam đang quan tâm nghiên cứu thể loại này.

Đặng Hơn sưu tầm

Viết bình luận lên Facebook:

Các tin khác